Trong thời gian vừa qua ở một số địa phương phản ánh tình trạng tại một số người dân phản đối việc xây dựng trạm thu phát sóng thông tin di động (BTS) do lo ngại ảnh hưởng đến sức khỏe con người, gây khó khăn trong việc triển khai hạ tầng viễn thông (đặc biệt là hạ tầng mạng 5G) và ảnh hưởng đến việc đảm bảo thông tin liên lạc phục vụ sự chỉ đạo của chính quyền địa phương, đảm bảo thông tin liên lạc phòng chống thiên tai và nhu cầu sử dụng dịch vụ viễn thông của người dân. Tuy nhiên thông tin về việc lắp đặt, vận hành trạm BTS tại khu vực dân sinh sẽ gây ảnh hưởng đến sức khoẻ con người chỉ là những lời đồn đoán, thông tin sai lệch, thiếu căn cứ xác thực. Thực tế theo nghiên cứu, khuyến nghị của WHO, ICNIRP, ITU và kết luận của cơ quan chuyên môn thì chưa có bằng chứng cụ thể nào chứng minh việc ảnh hưởng của sóng thông tin di động (BTS) đến sức khoẻ người dân. Theo số liệu của Liên minh Viễn thông quốc tế (ITU): Tại khu vực Bắc Mỹ, đến cuối năm 2023, đã có 332 triệu người ở Bắc Mỹ (82% dân số) đăng ký dịch vụ di động – tăng 70 triệu người so với năm 2015. Tỷ lệ sử dụng di động dự kiến sẽ đạt 87% vào năm 2030, với 364 triệu người đăng ký dịch vụ di động.
Sự phát triển của mạng 5G ở Bắc Mỹ sẽ đạt 60% vào cuối năm 2024, và tăng lên 90% vào cuối thập kỷ này.Theo ITU, tính đến năm 2023, thế giới có 111 thuê bao di động và 87 thuê bao băng thông rộng di động trên 100 dân. Trong 5 năm qua, thuê bao băng thông rộng di động đã tăng 27%, gấp bốn lần tốc độ thuê bao di động (7%). Với 8,9 tỷ, số lượng thuê bao di động hiện đã vượt quá dân số thế giới. Ở các quốc gia có thu nhập cao và thu nhập trung bình khá, có khoảng 130 thuê bao di động trên 100 người dân, gấp đôi mức được quan sát thấy ở các quốc gia có thu nhập thấp (65 thuê bao trên 100 người dân). Đăng ký băng thông rộng di động (MBB) cũng đang chứng kiến sự gia tăng đáng kể, với 95% kết nối di động toàn cầu dự kiến sẽ là băng thông rộng vào năm 2025. Có thể thấy rằng, mạng thông tin di động vẫn đang được các nước trên thế giới xây dựng, triển khai ngay cả ở những khu vực rất quan tâm đến sức khoẻ người dân như Bắc Mỹ, Châu Âu.
Theo các nghiên cứu trên thế giới việc tiếp xúc với trường điện từ không phải là hiện tượng mới. Cả trường điện và từ đều tạo ra điện áp và dòng điện trong cơ thể nhưng ngay cả ngay bên dưới đường dây truyền tải điện áp cao, dòng điện cảm ứng vẫn rất nhỏ so với ngưỡng gây sốc và các hiệu ứng điện khác. Hiệu ứng ảnh hưởng chủ yếu của tần số vô tuyến là làm tăng nhiệt độ. Chẳng hạn, hiệu ứng này được ứng dụng trong lò vi sóng để làm nóng thức ăn. Mức độ trường tần số vô tuyến mà mọi người thường tiếp xúc thấp hơn nhiều so với mức cần thiết để tạo ra hiệu ứng nhiệt đáng kể. Các hướng dẫn hiện hành được xây dựng căn cứ cơ sở hiệu ứng làm nóng của sóng vô tuyến. Cho đến nay, chưa có tác động xấu nào đến sức khỏe do tiếp xúc lâu dài ở mức độ thấp với tần số vô tuyến.
Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã thông qua chương trình quốc tế về EMF đã tiến hành các đánh giá toàn diện về tác động sức khỏe của EMF từ các nguồn khác nhau, bao gồm các trạm phát sóng di động. Tháng 6/2000, WHO sau khi nghiên cứu, đã tổng hợp và khẳng định “Qua các nghiên cứu cho đến thời điểm này, chưa có bằng chứng nào cho thấy trường RF từ các trạm thu phát thông tin di động có thể gây ảnh hưởng có hại cho con người” (trích tài liệu Electromagnetic fields and public health: mobile telephones and their base stations - WHO Fact sheet N°193).
Tháng 6/2006, trong tài liệu về công nghệ không dây và trạm gốc (Electromagnetic fields and public health - Base stations and wireless technologies – WHO Fact sheet N°304), WHO cũng khẳng định “Trên cơ sở xem xét các mức ảnh hưởng rất thấp và các kết quả nghiên cứu thu thập được cho đến nay, chưa có bằng chứng khoa học nào cho thấy các tín hiệu RF yếu từ các trạm thu phát thông tin di động và mạng vô tuyến gây ảnh hưởng có hại cho sức khỏe con người”.
Nhiều nghiên cứu cho thấy mức độ phơi nhiễm từ các mạng di động vẫn tương đối ổn định qua nhiều năm, ở các quốc gia và châu lục khác nhau, với các công nghệ khác nhau. Phân tích các phép đo trong hơn 10 năm tại hơn 25 quốc gia trên thế giới cho thấy mức công suất trung bình của tín hiệu RF từ các hệ thống thông tin di động thường dưới 0,1 μW/cm2, thấp hơn rất nhiều so với giới hạn quốc tế. Nhiều ứng dụng không dây mới trong IoT và thiết bị đeo hoạt động ở công suất rất thấp.
Tại Việt Nam, việc quản lý phơi nhiễm điện từ trường do nghề nghiệp do Bộ Y tế quản lý theo Thông tư 21/2016/BYT ban hành QCVN 21/2016/BYT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về điện từ trường tần số cao - Mức tiếp xúc cho phép điện từ trường tần số cao tại nơi làm việc. Trong đó, Bộ Thông tin và Truyền thông quản lý phơi nhiễm điện từ trường không do nghề nghiệp trong thông tin di động.
Năm 2005, Bộ Khoa học và Công nghệ xây dựng và ban hành Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 3718-1:2005 “Quản lý an toàn trong trường bức xạ tần số radio – Phần 1: Mức phơi nhiễm lớn nhất trong dải tần từ 3 KHz đến 300GHz” trên cơ sở khuyến nghị của Tổ chức Y tế thế giới và Tổ chức phòng chống bức xạ phi ion hóa. Năm 2006, Bộ Thông tin và Truyền thông đã quyết định bắt buộc áp dụng TCVN 3718-1:2005 đối với các trạm BTS. Cụ thể là, giá trị mật độ dòng năng lượng (S) giới hạn đối với đối tượng trạm BTS là 2 W/m2 (giới hạn là khá an toàn khi so với khuyến nghị của WHO và một số nước trên thế giới như Mỹ, Nhật). Năm 2022, Bộ Thông tin và Truyền thông ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 08:2022/BTTTT “Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về phơi nhiễm trường điện từ của các trạm gốc điện thoại di động mặt đất công cộng” được xây dựng dựa trên cơ sở IEC 62232:2017, ITU-T K.100 (07/2019), ITU-T K.52 (01/2018), TCVN 3718-1:2005 và ICNIRP Guidelines “Guidelines for limiting exposure to electromagnetic fields (100 KHz to 300 GHz). QCVN 08:2022/BTTTT áp dụng cho các trạm gốc điện thoại di động mặt đất công cộng có ăng ten lắp đặt ngoài trời, hoạt động trong dải tần từ 110 MHz đến 6 GHz. Quy chuẩn này quy định các nội dung: giới hạn phơi nhiễm không do nghề nghiệp, phương pháp xác định tỷ lệ phơi nhiễm tổng cộng, phương pháp xác định các vùng, và phương pháp đo. Theo đó, mức giới hạn cường độ điện trường cho công chúng trong dải tần từ 10 MHz đến 6 GHz là 27,5 V/m (theo TCVN 3718-1:2005) đối với phơi nhiễm không do nghề nghiệp. QCVN 08:2022/BTTTT quy định tương đương hoặc nghiêm ngặt hơn, tùy dải tần số, so với Khuyến nghị 1999/519/EC của EU, ICNIRP, IEEE.
Bảng so sánh cường độ trường điện của Việt Nam với EU, ICNIRP và IEEE như sau:
Đơn vị: V/m
|
Tần số |
EU |
ICNIRP |
IEEE |
Việt Nam |
|
30MHz-400MHz |
|
27,7 |
27,5 |
27,5 |
|
900 MHz |
41 |
41,25 |
- |
27,5 |
|
1800 MHz |
58 |
58,34 |
- |
27,5 |
|
2100 MHz |
61 |
- |
- |
27,5 |
|
2-6 GHz |
- |
- |
- |
27,5 |
|
2-300GHz |
- |
- |
- |
- |
Đáng lưu ý là giá trị này còn thấp hơn mức cường độ trường điện phát ra từ một số thiết bị gia dụng (đo ở khoảng cách 30 cm):
|
Thiết bị gia dụng |
Cường độ trường điện (V/m) |
|
Máy thu stereo |
180 |
|
Bàn là |
120 |
|
Tủ lạnh |
120 |
|
Máy trộn |
100 |
|
Máy nướng bánh mì |
80 |
|
Máy sấy tóc |
80 |
|
TV màu |
60 |
|
Máy pha cà phê |
60 |
|
Máy hút bụi |
50 |
|
Lò nướng điện |
8 |
|
Bóng đèn |
5 |
(Nguồn: Federal Office for Radiation Safety, Germany 1999)
Các trạm thu phát sóng thông tin di động trước khi đưa vào sử dụng, lắp đặt đều phải đảm bảo tuân thủ các tiêu chuẩn/quy chuẩn kỹ thuật về tần số, tương thích điện từ tương ứng (các thiết bị nhà trạm phải có giấy chứng nhận hợp quy trước khi lắp đặt vận hành). Trong quá trình sử dụng, các trạm thu phát sóng cũng được kiểm định định kỳ. Theo đó, tất cả các trạm thu phát thông tin di động (mà trong bán kính 100m tính từ anten bất kỳ của các trạm BTS lắp đặt tại vị trí đó có công trình xây dựng trong đó có người sinh sống, làm việc) phải đáp ứng các yêu cầu được quy định trong QCVN 08:2022/BTTTT thì mới được phép hoạt động (theo các yêu cầu và thủ tục quy định tại các Thông tư của Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyển thông: Thông tư số 07/2020/TT-BTTTT ngày 13/4/2020 Quy định về kiểm định thiết bị viễn thông, đài vô tuyến điện (trước đây áp dụng theo Thông tư số 16/2011/TT-BTTTT); Thông tư số 17/2011/TT-BTTTT ngày 30/6/2011 Ban hành danh mục thiết bị viễn thông và đài vô tuyến điện bắt buộc kiểm định và Thông tư số 18/2011/TT-BTTTT ngày 30/6/2011 Ban hành quy trình kiểm định trạm gốc điện thoại di động mặt đất công cộng). Đối với các trạm BTS khi có sự thay đổi cấu hình như tăng công suất bức xạ, thay đổi vị trí, độ cao và hướng ăng ten làm cho các tiêu chí về an toàn trong trường bức xạ tần số vô tuyến điện vượt quá giá trị đã được kiểm định hoặc giấy chứng nhận kiểm định hết hiệu lực (5 năm) thì phải kiểm định lại. Cục Viễn thông – Bộ Thông tin và Truyền thông, các Sở Thông tin và Truyền thông hoặc các đơn vị được giao kiểm định có trách nhiệm kiểm tra định kỳ, đột suất các trạm BTS. Về mặt quy hoạch và xây dựng các trạm BTS, Bộ Thông tin và Truyền thông đã ban hành Thông tư số 14/2013/TT-BTTTT ngày 21/6/2013 hướng dẫn việc lập, phê duyệt và tổ chức thực hiện quy hoạch hạ tầng viễn thông thụ động tại địa phương; khuyến khích các doanh nghiệp sử dụng chung cơ sở hạ tầng để tiết kiệm chi phí và đảm bảo mỹ quan đô thị. Bộ Thông tin và Truyền thông cũng đã phối hợp với Bộ Xây dựng xây dựng Thông tư liên tịch số 15/2016/TTLT-BTTTT-BXD giữa Bộ Thông tin và Truyền thông và Bộ Xây dựng hướng dẫn quản lý việc xây dựng công trình hạ tầng kỹ thuật viễn thông thụ động trong đó có các trạm thu phát thông tin di động. Đây là một hành lang pháp lý thuận lợi cho việc xây dựng các các công trình hạ tầng kỹ thuật viễn thông thụ động trong đó có trạm thu phát sóng ở các địa phương, đồng thời cũng đảm bảo chất lượng, an toàn cho người dân và các công trình lân cận, đảm bảo cảnh quan, môi trương và mỹ quan đô thị. Trên cơ sở này, các địa phương xây dựng quy hoạch hạ tầng kỹ thuật viễn thông thụ động. Trong quá trình xây dựng quy hoạch, các địa phương đều phải xin ý kiến các ban, ngành liên quan để đảm bảo công tác về an toàn, môi trường, an ninh, quốc phòng,…Việc lắp đặt các trạm thu phát sóng thông tin di động được thực hiện căn cứ theo quy hoạch của địa phương và quy chuẩn về phơi nhiễm trường điện từ nêu trên.
Công tác kiểm định thiết bị viễn thông, đài vô tuyến điện hiện nay được thực hiện thống nhất theo Thông tư số 07/2020/TT-BTTTT. Theo quy định, kiểm định là việc đánh giá sự phù hợp của thiết bị với quy chuẩn kỹ thuật quốc gia trước khi đưa vào sử dụng, làm căn cứ để bảo đảm an toàn kỹ thuật và quản lý thống nhất trong lĩnh vực viễn thông. Để tập trung quản lý các thiết bị có khả năng ảnh hưởng đến an toàn con người và xã hội, Bộ Khoa học và Công nghệ đã ban hành Danh mục thiết bị viễn thông, đài vô tuyến điện bắt buộc phải kiểm định tại Thông tư số 08/2020/TT-BTTTT, đồng thời tiếp tục rà soát, điều chỉnh, bổ sung tại Thông tư số 07/2023/TT-BTTTT nhằm phù hợp với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ và yêu cầu quản lý trong từng giai đoạn. Theo quy định, trong thời hạn ba mươi (30) ngày kể từ ngày trạm BTS được cấp Giấy chứng nhận kiểm định, tổ chức, doanh nghiệp phải niêm yết bản sao Giấy chứng nhận kiểm định tại địa điểm lắp đặt trạm hoặc bằng phương thức niêm yết điện tử tại Website của doanh nghiệp (tại nhà trạm phải cung cấp thông tin đường Link tới Website để người dân có thể truy cập, tra cứu). Các tổ chức kiểm định phải cập nhật thông tin thường xuyên, liên tục trên Website của đơn vị để mọi người tra cứu. Qua công tác giám sát, kiểm tra, đánh giá của Bộ Khoa học và Công nghệ đến nay, hầu hết các doanh nghiệp viễn thông đều chấp hành đúng các quy định của nhà nước. Bộ Khoa học và Công nghệ quản lý mức giới hạn bức xạ EMF RF thuộc dải tần số thông tin di động theo quy chuẩn kỹ thuật đảm bảo an toàn sức khỏe cho công chúng (phơi nhiễm không nghề nghiệp) với mức giới hạn tương đương và nghiêm ngặt hơn, tùy tham số đo, so với hướng dẫn quốc tế ICNIRP, IEEE. Cùng với đó, Bộ Khoa học và Công nghệ cũng đã đưa ra văn bản quy định về quy hoạch, quản lý việc xây dựng, lắp đặt các trạm thu phát sóng. Bộ Y tế quản lý theo quy chuẩn kỹ thuật đảm bảo an toàn sức khỏe cho người lao động (phơi nhiễm nghề nghiệp) với mức giới hạn tương đương với hướng dẫn quốc tế ICNIRP, IEEE.
ĐÁNH GIÁ NGUY CƠ CÁC TRẠM THU PHÁT SÓNG TẠI VIỆT NAM
Qua các phân tích nêu trên, đến nay, chưa có bằng chứng khoa học rõ ràng cho thấy bức xạ từ các trạm BTS ở mức độ tiếp xúc thông thường có thể gây nguy hiểm đến sức khỏe con người, một số nghiên cứu đã chỉ ra những tác động tiềm ẩn, đặc biệt khi tiếp xúc với bức xạ ở cường độ cao trong thời gian dài. Việc phơi nhiễm với tần số vô tuyến (RF) có thể gây tăng nhiệt độ cơ thể trong một số trường hợp, nhưng các ảnh hưởng này thường không đáng kể ở mức độ phơi nhiễm thông thường. Việt Nam đã ban hành các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về phơi nhiễm trường điện từ của các trạm BTS, với các mức giới hạn tương đương hoặc nghiêm ngặt hơn so với các khuyến nghị quốc tế. Cùng với đó, Việt Nam cũng đã ban hành văn bản quy định về quy hoạch, quản lý việc xây dựng, lắp đặt các trạm thu phát sóng. Các quy định này đã giúp bảo vệ an toàn cho công chúng. Trong thời gian tới, việc giám sát tại các khu vực có mức độ nhạy cảm cao (như khu dân cư, trường học, bệnh viện) sẽ tiếp tục được thực hiện chặt chẽ hơn. Theo quy định, tất cả các trạm BTS lắp đặt mới phải được kiểm định mức phơi nhiễm trường điện từ trong vòng 90 ngày kể từ khi hoạt động. Kết quả kiểm định cho thấy, hầu hết các trạm BTS đều đáp ứng được các quy định về mức giới hạn phơi nhiễm an toàn cho người dân. Công tác kiểm tra và giám sát thường xuyên, đặc biệt ở các khu vực đông dân cư hoặc gần trường học, bệnh viện – những nơi có nguy cơ nhạy cảm hơn đối với sức khỏe cộng đồng vẫn sẽ được tiếp tục thực hiện định kỳ. Người dân có thể xem Giấy chứng nhận kiểm định được doanh nghiệp niêm yết tại trạm BTS hoặc trên website của tổ chức kiểm định. Đối với trạm BTS không bắt buộc kiểm định, người dân có thể xem Bản công bố trạm gốc phù hợp quy chuẩn tại trạm hoặc trên website của doanh nghiệp.
Theo WHO, đến nay có khoảng 25.000 bài báo nghiên cứu về tác động sinh học và ứng dụng y tế của bức xạ không ion hóa đã được xuất bản trong 30 năm qua. Mặc dù một số người cảm thấy cần phải tiến hành nhiều nghiên cứu hơn, nhưng kiến thức khoa học trong lĩnh vực này hiện đã rộng hơn so với hầu hết các loại hóa chất. Dựa trên một đánh giá chuyên sâu gần đây về tài liệu khoa học, WHO đã kết luận rằng bằng chứng hiện tại không xác nhận sự tồn tại của bất kỳ hậu quả nào đối với sức khỏe do tiếp xúc với trường điện từ mức thấp.
Tại Việt Nam đã tuân thủ toàn bộ khuyến nghị của các tổ chức quốc tế như ITU, ICNIRP,… để bảo vệ sức khoẻ người dân từ sóng điện từ. Đã ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia với mức độ bảo vệ nghiêm ngặt hơn so với nhiều quốc gia yêu cầu cao về bảo vệ sức khoẻ như Liên minh Châu Âu.Trong công tác quản lý việc lắp đặt, vận hành trạm BTS. Trước khi đưa vào sử dụng, tất cả các trạm thu phát sóng thông tin di động đều được hợp chuẩn để đảm bảo tuân thủ các giới hạn phát xạ. Trong quá trình sử dụng, các trạm thu phát sóng đều được kiểm định theo định kỳ và các nhà mạng phải niêm yết công khai tại trạm BTS hoặc trên website để người dân giám sát. Để đảm bảo an toàn sức khỏe cộng đồng, các cơ quan chức năng tiếp tục giám sát chặt chẽ việc lắp đặt và vận hành các trạm BTS, đặc biệt là ở các khu vực dân sinh.
Hạ tầng viễn thông là một trong những nền tảng thiết yếu của xã hội số hiện đại, có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của kinh tế số, chính quyền số và xã hội số. Trong bối cảnh chuyển đổi số đang được triển khai mạnh mẽ trên phạm vi cả nước, mọi hoạt động của người dân và doanh nghiệp như liên lạc, học tập trực tuyến, khám chữa bệnh từ xa, giao dịch điện tử, tiếp nhận thông tin phòng chống thiên tai, dịch bệnh và sử dụng các dịch vụ công trực tuyến đều phụ thuộc trực tiếp vào chất lượng và độ phủ của mạng viễn thông. Việc xây dựng và phát triển mạng lưới trạm thu phát sóng thông tin di động (BTS) vì vậy không chỉ là hoạt động mang tính kỹ thuật chuyên ngành mà còn là nhiệm vụ có ý nghĩa xã hội sâu sắc, gắn liền trực tiếp với quyền lợi thiết thực và chất lượng cuộc sống của người dân. Mạng lưới BTS được triển khai hợp lý, đúng quy chuẩn sẽ góp phần bảo đảm quyền tiếp cận thông tin, thu hẹp khoảng cách số giữa các vùng miền, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế – xã hội và nâng cao mức sống của cộng đồng dân cư. Tất cả các trạm BTS được xây dựng và đưa vào vận hành đều phải tuân thủ đầy đủ hệ thống quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về giới hạn phơi nhiễm trường điện từ, được đo kiểm, kiểm định và giám sát thường xuyên bởi các cơ quan chuyên môn. Hệ thống quy chuẩn này được xây dựng trên cơ sở các khuyến nghị khoa học của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và các tổ chức tiêu chuẩn hóa quốc tế uy tín, bảo đảm mức độ bảo vệ cao đối với sức khỏe cộng đồng. Do đó, người dân có thể yên tâm sinh sống, học tập và làm việc trong khu vực có trạm phát sóng khi các trạm BTS được lắp đặt và vận hành đúng quy định. Trong quá trình triển khai hạ tầng viễn thông tại địa phương, vai trò tham gia của cộng đồng là yếu tố quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và tính minh bạch. Người dân được khuyến khích chủ động tiếp cận các nguồn thông tin chính thống, tin cậy; đồng thời nâng cao nhận thức, tỉnh táo trước các thông tin chưa được kiểm chứng có thể gây hoang mang trong dư luận. Việc tiếp nhận, chia sẻ và lan tỏa thông tin khoa học chính xác trong cộng đồng góp phần hình thành môi trường thông tin lành mạnh, tạo sự đồng thuận xã hội trong phát triển hạ tầng viễn thông. Bên cạnh đó, việc tiếp nhận ý kiến phản ánh, kiến nghị của người dân về quá trình lắp đặt và vận hành trạm BTS có ý nghĩa quan trọng đối với công tác quản lý nhà nước. Các phản ánh kịp thời, mang tính xây dựng sẽ giúp các cơ quan chức năng nhanh chóng kiểm tra, xử lý các vấn đề phát sinh, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của cộng đồng dân cư, đồng thời nâng cao chất lượng và hiệu quả quản lý. Việc phát triển hạ tầng viễn thông theo quy hoạch, đúng quy chuẩn và có sự đồng thuận của cộng đồng sẽ tạo nền tảng vững chắc cho triển khai các dịch vụ số, thúc đẩy chuyển đổi số toàn diện, nâng cao chất lượng cuộc sống và góp phần thực hiện mục tiêu phát triển nhanh, bền vững của đất nước trong giai đoạn tới.
Nguồn: Cục Viễn thông - Bộ Khoa học và Công nghệ
Online 7
Hôm nay 753
Hôm qua 0